CÔNG TY THƯƠNG MẠI KHATOCO 10 NĂM HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN

 

Tổng công ty Khánh Việt (Khatoco) mà tiền thân là Công ty chuyên doanh Thuốc lá Phú Khánh ra đời vào ngày 4/10/1983, ngày 28/1/1993 đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Thuốc lá Khánh Hoà. Sau gần 2 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, đến năm 2002 đã trở thành một doanh nghiệp địa phương có quy mô lớn nhất Miền Trung, phát triển đa ngành nghề như công nghiệp thuốc lá, công nghiệp giấy in và bao bì, công nghiệp dệt may, kinh doanh dịch vụ du lịch và khách sạn, kinh doanh các sản phẩm từ chăn nuôi đà điểu cá sấu …. Để phù hợp với quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh mới, ngày 21/05/2002, trên cơ sở sắp xếp, bổ sung, Tổng công ty Khánh Việt (Khatoco) đã ra đời hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con với 16 đơn vị thành viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó cần phải có công ty bán hàng chuyên nghiệp để tập trung là đầu mối tiêu thụ các sản phẩm đầu ra do tổ hợp Công ty mẹ - công ty con Tổng công ty Khánh Việt sản xuất. Vì vậy Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại Khatoco (Công ty) đã ra đời trong thời điểm này theo Quyết định số 77A/2002/QĐ-UB ngày 21/5/2002 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa và ngày 1/7/2002 Công ty chính thức đi vào hoạt động. Kể từ đó, Công ty TNHH Thương mại Khatoco lấy ngày 1/7 hàng năm làm ngày sinh nhật của mình.

Công ty TNHH Thương mại Khatoco là công ty con trong tổ hợp Công ty mẹ - công ty con Tổng công ty Khánh Việt được công ty mẹ đầu tư 100% vốn điều lệ với vốn điều lệ số ban đầu là 10 tỷ đồng. Nhìn lại 10 năm hình thành và phát triển của Công ty Thương mại Khatoco có thể chia là 3 giai đoạn:

- Giai đoạn hình thành 2002 – 2004 .
- Giai đoạn củng cố và định hướng phát triển 2005 – 2008 .
- Giai đoạn xây dựng và phát triển bền vững 2009 – 2012 .

I – Giai đoạn hình thành (2002 – 2004)

Công ty Thương mại Khatoco được thành lập trên cơ sở tách ra và sắp xếp lại từ các phòng, chi nhánh trực thuộc XNLH thuốc lá Khánh Hoà gồm Phòng Kinh doanh Dệt May; Phòng nghiệp vụ thị trường và các chi nhánh Hải phòng, Hà Nội, Cần Thơ. Nguồn nhân lực khi thành lập có 108 người trên cơ sở tách một số nhân lực của các bộ phận sáp nhập và điều động ở các đơn vị thành viên trong tổ hợp Tổng công ty Khánh Việt.

Chức năng nhiệm vụ ban đầu là tiêu thụ các sản phẩm vải dệt của Nhà máy dệt Tân Tiến (đơn vị thành viên Tổng công ty) và áo sơ mi do Xí nghiệp may Khatoco sản xuất chủ yếu từ nguồn vải của Nhà máy Dệt Tân Tiến. Quản lý đội xe vận tải hàng hoá với 18 đầu xe tải. Tháng 5/2003 Công ty Thương mại Khatoco thành lập phòng thị trường ngành thuốc lá trên cơ sở rút bộ phận nhân viên thị trường thuốc lá của Nhà máy thuốc lá Khánh Hoà và bổ sung thêm nhân lực mới qua tuyển dụng. Tháng 10/2003 đội xe của công ty tiếp nhận thêm nhiệm vụ đưa đón công nhân trong toàn Tổng công ty Khánh Việt.

Hoạt động của công ty trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào những nhiệm vụ :

- Về ngành kinh doanh thuốc lá: Tiếp nhận và xây dựng củng cố hệ thống đại lý bán hàng trên toàn quốc do XNLH thuốc lá Khánh Hoà bàn giao về .
- Về ngành kinh doanh Dệt - May: Thiết lập mạng lưới tiêu thụ ở các tỉnh, thành phố trong cả nước để tiếp cần thị trường Dệt – May. Tổ chức giới thiệu, quảng cáo, nghiên cứu thị trường, mẫu mã… để lên kế hoạch sản xuất và đặt hàng theo đơn của khách hàng.
- Quản lý và điều hành phòng vận tải, đảm bảo vận chuyển hàng hoá đầy đủ kịp thời an toàn. Quản lý và điều hành đội xe khách đưa đón công nhân của các đơn vị thành viên .

Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, nhất là công tác tổ chức và điều hành hoạt động của công ty do đặc thù khi hình thành công ty trên nền tảng là sáp nhập từng mảng hoạt động của từng đơn vị cũ. Cơ cấu tổ chức của công ty trong giai đoạn này ngoài các phòng ban của công ty còn có các chi nhánh Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ. Đến tháng 5/2004 chi nhánh Lao Bảo – Quảng Trị được thành lập nhằm phối hợp với các cơ quan chức năng để ngăn chặn bớt tình hình thuốc lá nhập lậu qua cửa khẩu Lao Bảo, đồng thời hưởng chính sách ưu đãi của khu kinh tế đặc biệt. Nguồn nhân lực đa số chưa được đào tạo chuyên ngành kinh doanh thương mại, các phòng chức năng tham mưu chủ yếu kiêm nhiệm các chức năng. Thị trường phát triển theo hướng tự phát, tháng 5/2003 mới có 40 nhân viên thị trường thuốc lá đầu tiên sau khi được đào tạo nghiệp vụ bán hàng. Ngành Dệt may chia mỏng, mỗi khu vực chỉ có 1 nhân viên làm việc độc lập từ khâu mở đại lý đến cung ứng hàng hoá và thu tiền. Đội xe hoạt động theo hình thức bao cấp chi phí và công suất hoạt động. Mặc dù gặp nhiều khó khăn của thủa ban đầu thành lập, nhưng công ty vẫn vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

- Doanh thu bình quân : 2.247 tỷ
- Tổng tài sản bình quân : 268 tỷ
- Lợi nhuận trước thuế bình quân : 36,8 tỷ
- Nộp Ngân sách : 56,6 tỷ

Năm 2004, Công ty Thương mại Khatoco được UBND Tỉnh tặng bằng khen vì đã có thành tích 2 năm liền 2003 – 2004 hoàn thành chỉ tiêu nộp Ngân sách.

1 – Hoạt động kinh doanh thuốc lá :
Sản lượng tiêu thụ bình quân năm trong giai đoạn 2002 – 2004 là 480 triệu gói, trong đó thuốc lá liên doanh gồm nhãn hiệu White Horse và Everes tiêu thụ bình quân 210 triệu gói/năm chiếm 44% sản lượng tiêu thụ. Thị trường chính của nhãn thuốc này chủ yếu ở Miền Trung từ Huế vào Nha Trang. Đối với nhóm thuốc lá nội địa trong giai đoạn này chỉ tập trung chủ yếu thị trường Nam bộ với nhãn thuốc Nha trang du lịch hộp 44 triệu gói/năm; Nha Trang du lịch bao mềm 75 triệu gói/năm, thị trường Nghệ An, Hà Tĩnh với nhãn Seabird vàng 65 triệu gói/ năm, thị trường Quảng Nam – Đà Nẵng với nhãn Prince 29 triệu gói/năm, thị trường Tây nguyên với nhãn War Horse 43 triệu gói/năm . Doanh thu tiêu thụ thuốc lá bình quân trong giai đoạn này đạt 2.170 tỷ/năm .

2 – Hoạt động kinh doanh dệt may :
Nhiệm vụ chính của hoạt động kinh doanh đối với ngành kinh doanh Dệt may trong giai đoạn này chủ yếu bao tiêu sản phẩm vải của Nhà máy Dệt Tân Tiến và áo sơ mi do Xí nghiệp may Khatoco sản xuất từ nguồn vải của Nhà máy Dệt Tân Tiến cung cấp. Khâu sản xuất và khâu tiêu thụ hoàn toàn độc lập với thị trường nhưng vẫn phải bảo đảm sản lượng để duy trì ổn định sản xuất. Đây là giai đoạn lúng túng trong hướng đi của ngành Dệt may do sản xuất không gắn với thị trường, doanh thu bình quân ngành may mặc chỉ đạt 27 tỷ/năm. Doanh thu tiêu thụ vải mặc dù đạt bình quân 54 tỷ đồng/năm nhưng có xu hướng giảm dần .

II – Giai đoạn củng cố và định hướng phát triển ( 2005 – 2008 )

Những khó khăn bỡ ngỡ của thời gian đầu đã vượt qua, đây là giai đoạn củng cố và định hướng phát triển trong những năm tiếp theo. Để phù hợp với quy mô của định hướng phát triển, năm 2006 vốn điều lệ của công ty từ 10 tỷ đồng tăng lên 45 tỷ đồng. Thuận lợi lớn nhất trong giai đoạn này là sản phẩm thuốc lá của Khatoco đã khẳng định ở thị trường Miền Trung và Tây nguyên, đặc biệt là nhãn thuốc White horse, Seabird, War Horse, Prince … tạo đà tăng trưởng cao cho các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào. Tuy nhiên thị trường Miền Bắc còn bỏ ngỏ, thị trường Miền nam đang có chiều hướng giảm dần thị phần nhãn thuốc Nha Trang du lịch. Ngành dệt may mặc dù đã mở rộng hệ thống đại lý bán hàng trên toàn quốc, tuy nhiên khó khăn lớn nhất vẫn thuộc về khâu sản xuất, đó là kiểu dáng mẫu mã đơn điệu và không phong phú, chất lượng vải tốt nhưng ít chủng loại, màu sắc dễ phai và không ổn định. Bên cạnh đó do chính sách khuyến mãi thuốc lá bằng vải, áo sơ mi những năm trước đã vô tình làm giảm uy tín sản phẩm cũng như rối loạn giá cả trên thị trường làm giảm sức cạnh tranh. Nguồn nhân lực từ những năm đầu chỉ có 108 người đến năm 2005 đã lên tới 333 người là điều thuận lợi, tuy nhiên đa số nhân lực chưa được đào tạo, khâu tuyển chọn đầu vào chưa chặt chẽ nên chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều khó khăn .

Bước vào năm 2005, công ty đã tập trung củng cố lại thị trường thuốc lá và dệt may. Theo đó ngành thuốc lá đã sắp xếp lại hệ thống đại lý trên toàn quốc, thu hẹp những thị trường không có khả năng phát triển để tập trung cho những thị trường có tiềm năng. Mạnh dạn dừng sản xuất những nhãn thuốc sau nhiều năm không tăng trưởng do không phù hợp thị trường hoặc nhãn thuốc không có hiệu quả để tập trung cho những nhãn thuốc đã khẳng định thị trường. Vì vậy số nhãn thuốc của giai đoạn 2002 – 2004 là 32 nhãn thì trong giai đoạn 2005 – 2008 chỉ còn 17 nhãn nhưng sản lượng vẫn tăng. Nếu như sản lượng tiêu thụ bình quân năm trong giai đoạn 2002 – 2004 là 481 triệu gói/năm thì trong giai đoạn 2005 – 2008 tiêu thụ bình quân 617 triệu gói năm, tăng 1,28 lần. Về ngành dệt may đã chấm dứt khuyến mãi vải và áo sơ mi qua thuốc lá, xử lý hạ giá hàng tồn kho và thay đổi thương hiệu sản phẩm áo sơ mi là sản phẩm chủ lực, xây dựng lại hệ thống đại lý bán hàng thay cho điểm mở tràn lan trong giai đoạn đầu, thay đổi chính sách bán hàng dệt may và vải. Năm 2008 bắt đầu thí điểm mở Showroom giới thiệu sản phẩm ở các Thành phố lớn đồng thời tiến hành bán hàng thanh toán trả tiền ngay song song với hình thức trả chậm có định mức nợ và hạn nợ cho các đại lý, xoá bỏ hình thức bán ký gửi như thời gian trước đây. Chú trọng và chủ động trong khâu thiết kế mẫu vải tránh tình trạng thụ đồng trông chờ mẫu từ nhà sản xuất. Tiến hành nhiều hội nghị khách hàng cho cả ngành Thuốc lá và dệt may theo từng vùng trên toàn quốc để điều chỉnh thị trường cho phù hợp và tạo sự gắn kết giữa nhà sản xuất và hệ thống bán hàng nhằm đáp ứng yêu cầu kịp thời của thị trường. Về nguồn nhân lực đã tập trung đào tạo lại, bổ sung thay thế để củng cố lại. Riêng năm 2007 đã tuyển dụng mới 110 người và đến năm 2008 tổng số lao động lên 483 người. Nâng cao vai trò kiểm tra giám sát mọi hoạt động từ công ty đến các chi nhánh tránh tiêu cực xảy ra.

Những định hướng được vạch ra cho công ty là phải xây dựng công ty thương mại Khatoco thành một doanh nghiệp thương mại chuyên nghiệp. Xây dựng hệ thống bán hàng các cấp theo hướng quy mô vừa rộng vừa sâu, đội ngũ nhân viên năng động, trung thực và làm việc chuyên nghiệp. Xác định Thành phố Hồ chí minh là thị trường trọng điểm để phát triển thương hiệu và các sản phẩm tiêu thụ , tháng 11/2008 chi nhánh Thành phố Hồ chi Minh ra đời.

Đặc biệt tháng 11/2008, Công ty Thương mại được Tổng công ty giao thêm nhiệm vụ tiêu thụ toàn bộ sản lượng thịt đà điểu cá sấu của Tổng công ty trên thị trường toàn quốc trên cở sở sáp nhập bộ phận thị trường của Công ty kinh doanh Đà điểu cá sấu vào công ty Thương mại Khatoco. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của Công ty được lãnh đạo tin tưởng. Quy mô và cơ cấu tổ chức của Công ty vào cuối giai đoạn 2005 – 2008 như sau:

- Ban Giám đốc
- Phòng Hành chính - Nhân sự
- Phòng Kế toán tài chính
- Phòng kinh doanh thuốc lá
- Phòng kinh doanh Dệt May
- Phòng kinh doanh thịt đà điểu cá sấu
- Phòng vận tải 
- Cùng 6 chi nhánh trên toàn quốc .

Có thể nói sau 6 năm đi vào hoạt động, đến năm 2008 cơ cấu tổ chức bộ máy mới đi vào chuyên nghiệp ổn định theo từng chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban. Đây là điều kiện căn bản để phát triển chiều sâu trong từng lĩnh vực hoạt động.

1 - Hoạt động kinh doanh thuốc lá :
Sản lượng tiêu thụ bình quân năm trong giai đoạn 2005 – 2008 là 616 triệu gói, trong đó thuốc lá liên doanh là 283 triệu gói chiếm 46% sản lượng. Sản lượng thuốc lá nội địa tiêu thụ mạnh trong giai đoạn này là các nhãn Nhatrang hộp 33 triệu gói/năm; Prince 48,2 triệu gói/năm ; war horse 133 triệu gói/năm; Nhatrang bao mềm 25,7 triệu gói/năm; Seabird vàng 79 triệu gói/năm . Doanh thu thuốc lá bình quân năm 3.340 tỷ.

2 – Hoạt động kinh doanh dệt may :
Đây là giai đoạn củng cố lại ngành Dệt may, tiêu chí trong giai đoạn này là giải quyết hàng tồn kho, phân khúc lại thị trường và định vị lại sản phẩm. Tập trung cải tiến mẫu mã áo sơ mi nam, chấm dứt sản xuất áo nữ và các mặt hàng không có khả năng phát triển. Gắn sản xuất theo định hướng của thị trường, phù hợp với thị trường. Đối với kinh doanh vải trao lại quyền tiêu thụ vải cho nhà máy Dệt Tân Tiến để chủ động kinh doanh sát với thị trường hơn vì vậy doanh thu vải từ 54 tỷ (2005) còn 6,4 tỷ (2008). Doanh thu ngành dệt may đạt 42, 2 tỷ đồng tăng gần gấp đôi giai đoạn trước nhưng vẫn chủ yếu là giải quyết hàng tồn kho, mức giá còn thấp chưa có hiệu quả.

3 – Hoạt động kinh doanh toàn ngành
Nhìn chung hoạt động của toàn công ty trong giai đoạn 2005 – 2008 có nhiều chuyển biến tích cực cả về chất và lượng. Đặc biệt công tác quản trị nguồn nhân lực đã được nâng lên 1 bước. Các quy chế hoạt động, đánh giá năng lực nhân viên, hệ thống thang bảng lương mới đã tạo khí thế làm việc mới. Hoạt động sản xuất kinh doanh đã chú trọng các chỉ tiêu chất lượng, doanh thu toàn ngành bình quân đạt 3.340 tỷ đồng/năm tăng 1,48 lần giai đoạn trước đã thể hiện rõ sự tăng trưởng về quy mô. Tổng tài sản bình quân 330 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân 99 tỷ/năm tăng 2,7 lần giai đoạn trước. Nộp Ngân sách 48,5 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2005 – 2008, Công ty Thương mại Khatoco được Uỷ ban nhân dân Tỉnh tặng 2 bằng khen vào các năm 2006, 2007 về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tổng cục thuế tặng giấy khen liên tục trong 3 năm 2006 – 2008 về việc thực hiện tốt chỉ tiêu giao nộp Ngân sách.

III – Giai đoạn xây dựng và phát triển bền vững (2009 – 2012)

Đây là giai đoạn chịu sự ảnh hưởng nặng nề tác động của nền kinh tế trong nước và trên thế giới. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào cuối năm 2008 chưa đi qua hết đã dến cơn bão khủng hoảng tài chính 2010 và sự sụp đổ của hàng loạt hệ thống Ngân hàng, nợ công của các nước Châu Âu năm 2011. Trong bối cảnh đó, là công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại đã chịu áp lực không nhỏ để có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đạt được kết quả trên ngoài sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của lãnh đạo Tổng công ty Khánh Việt còn phải khẳng định rằng đây là kết quả của giai đoạn củng cố và định hướng phát triển ( 2005 – 2008 ) đúng hướng và kịp thời.

Trong giai đoạn này, Công ty đã thay đổi mạnh mẽ về công tác quản trị nguồn nhân lực. Tái cấu trúc lại toàn bộ sơ đồ tổ chức, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng phòng chức năng, từng chi nhánh trong phạm vi toàn quốc. Sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện Quy chế tiền lương - tiền thưởng. Tuyển mới để bổ sung nguồn nhân lực, tiến hành tổng kiểm tra đánh giá lại năng lực toàn bộ nhân viên để sắp xếp lại, đào tạo lại, luân chuyển qua các ngành các vùng cho phù hợp. Tập trung các chính sách, giải pháp để phát triển thương hiệu theo cách làm, hướng đi mang tính chuyên nghiệp. Ngành thuốc lá đã ra soát sắp xếp lại thị trường, theo đó các thị trường không có khả năng phát triển đã thu hẹp nguồn lực để dồn cho các thị trường có tiềm năng. Ngành dệt may thay đổi chiến lược kinh doanh, tái cấu trúc lại các dòng sản phẩm đã bước đầu xác định hướng đi mới trong định hướng phát triển. Hệ thống nhận diện thương hiệu ra đời đã tạo điều kiện để phát triển thương hiệu một cách bài bản , chuyên sâu. Mẫu mã sản phẩm đã có sự thay đổi lớn, đa dang và phong phú hơn với nhiều dòng sản phẩm ở nhiều cấp độ giá khác nhau. Chính sách cho nhà đại lý linh hoạt hơn đã thúc đẩy chuyển hình thức ký gửi sang hình thức trả tiền ngay. Việc khai trương đưa vào sử dụng Tổng kho Đà Nẵng tháng 12/2009 cùng Tổng kho Nghệ An đã giảm cường độ và thời gian vận chuyển hàng, bảo đảm tính an toàn và khai thác hiệu quả đầu xe.

1 - Hoạt động kinh doanh thuốc lá :
Sản lượng tiêu thụ bình quân năm trong giai đoạn 2009 – 20012 là 735 triệu gói, trong đó thuốc lá liên doanh là 308 triệu gói chiếm 42% sản lượng. Sản lượng thuốc lá nội địa tiêu thụ mạnh trong giai đoạn này là các nhãn Nha trang hộp 14,5 triệu gói/năm; Prince 83,6 triệu gói/năm; war horse 216 triệu gói/năm; Seabird vàng 87,5 triệu gói/ năm; Thuốc Yett mới tung ra thị trường 2 năm đạt sản lượng 17 triệu gói/ năm. Cơ cấu các nhãn thuốc lá nội địa trong giai đoạn này đã có sự chuyển đổi về chất và lượng: chỉ còn dưới 10 nhãn nhưng không còn nhãn nào phải bù lỗ nhưng số lượng tuyệt đối tổng thể lại tăng lên. Doanh thu thuốc lá bình quân năm 5.654 tỷ. Thành công lớn nhất trong giai đoạn này là áp dụng chính sách thẻ ATM cho hệ thống đại lý cấp 2, đây là bước ngoặt đánh dấu sự vươn dài đến hệ thống bán hàng, tạo cho thị trường luôn ổn định về giá bán, các cấp bán hàng có hiệu quả được nâng lên.

2 – Hoạt động kinh doanh dệt may :
Doanh thu bình quân năm trong giai đoạn 2009 – 2012 đạt 92 tỷ đồng/năm. Đặc biệt nếu như cuối năm 2009, hàng tồn kho phải giảm giá lên đến 607.000 sản phẩm thì cuối năm 2010 chỉ còn 127.000 sản phẩm. Việc giải quyết hàng tồn kho giảm giá lớn cũng ảnh hưởng đến chỉ tiêu doanh thu và hiệu quả năm 2010 nhưng đây là điều kiện rất tốt để phát triển trong năm 2011 và các năm tiếp theo. Giá sản phẩm bình quân đã được tăng lên 43% so với giai đoạn 2005 - 2009, đây là giai đoạn hoạt động kinh doanh ngành may hòa vốn sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, kể cả chi phí đầu tư phát triển thương hiệu.

3 – Hoạt động kinh doanh ngành Đà diểu cá sấu:
Tiếp nhận ngành kinh doanh thịt đà điều cá sấu từ Công ty kinh doanh đà điểu các sấu chuyển qua cuối năm 2008. Biện pháp đầu tiên của phòng kinh doanh là định vị lại sản phẩm thịt đà điểu. Nếu như thời gian trước đây sản phẩm thịt đà điểu là mặt hàng cao cấp nên người tiêu dùng khó tiếp cận hoặc e ngại thì ngay đầu năm 2010 đã định vị lại theo mục tiêu là phổ cập sản phẩm thịt đà điểu như 1 trong các thịt thông dụng khác như thịt bò, thịt heo, thịt gà. Các kên bán hàng và truyền thông cũng được cơ cấu lại cho phù hợp với mục tiêu. Vì vậy tốc độ tiêu thụ tăng lên rõ rệt, năm 2009 tiêu thụ 302 tấn, năm 2010 tiêu thụ 372 tấn, năm 2011 tiêu thụ 463 tấn. Tốc độ nhu cầu thị trường vượt cung nên đã điều chỉnh tăng giá đáng kể dẫn theo tiêu thụ các phụ phẩm khác như trứng từ 5000 quả/năm lên 8100 quả /năm, cổ, cánh, tim … tiêu thụ hết .

4 – Hoạt động ngành vận tải
Thành tích của Công ty thương mai trong 10 năm qua không thể không ghi nhận thành tích đóng gói của phòng ận tải, với chức năng vận chuyển hàng hóa cho mọi miền của đất nước và đưa đón hàng ngàn công nhân cho tổ hợp Công ty mẹ công ty con Tổng công ty Khánh Việt luôn an toàn tuyệt đối trong 10 năm qua. Những ngày đầu, Đội vận tải có 30 chiếc, trong đó 09 xe ca làm công tác chuyên trách vận chuyển đưa đón CB CNV của các đơn vị NM Thuốc lá, NM Dệt Tân Tiến, XN May Khatoco và 21 xe tải làm công tác vận chuyển hàng đi các Nhà phân phối. Phòng vận tải đã không ngừng đổi mới, đầu tư thêm nhiều phương tiện vận tải mới, hiện đại hơn, trải qua 10 năm xây dựng và trưởng thành, Phòng vận tải có được đội ngũ “bác tài” có chuyên môn tay nghề và nhiều kinh nghiệm trong công tác bảo quản kiểm tra, bảo trì sữa chữa. Ý thức trách nhiệm của Công nhân viên đội xe. Đến nay ngoài phòng vận tải tại Nha Trang có hơn 38 đầu xe trong đó 23 xe tải và 15 xe ca, các chi nhánh trên toàn quốc cũng hơn 10 đầu xe phục vụ cho từng địa bàn. Năm 2011 tổ xe tải đã thực hiện vận chuyển tương đương 2.300 chuyến với tổng số km tương đương 2,3 triệu km và tổ xe ca ngoài phục vụ đưa đón CB CNV còn phục vụ đưa đón khách du lịch cho hai đơn vị Yang Bay và Long Phú với tổng số chuyến là 216 chuyến. Với thành tích đạt được như trên toàn Phòng đã được Công ty và Tổng công ty tặng giấy khen “Tập thể Phòng vận tải đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2011”.

5 – Hoạt động kinh doanh toàn ngành
Đây là giai đoạn phát triển ổn định và bền vững trên mọi mặt. Doanh thu bình quân đạt 5.780 tỷ/năm, tăng 1,7 lần là con số ấn tượng, riêng năm 2012 dự kiến đạt 6.900 tỷ. Liên tục từ năm 2007 đến 2011 luôn nằm trong TOP đầu của 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt nam. Tổng tài sản bình quân: 245 tỷ. Lợi nhuận trước thuế bình quân: 114 tỷ. Nộp Ngân sách: 62 tỷ đồng. Thương hiệu Khatoco liên tục đạt danh hiệu Sao vàng đất Việt từ năm 2008 đến nay với dòng sản phẩm may mặc và ngành hàng đà điểu cá sấu. Năm 2009 – 2011 đạt cờ thi đua xuất sắc của UBND Tỉnh trao tặng. Đồng thời để ghi nhận những đóng góp của đơn vị đối với xã hội Hội Doanh Nghiệp trẻ Việt Nam bình chọn đơn vị là TOP 10 doanh nghiệp tiêu biểu trách nhiệm xã hội năm 2011.
Sự đi lên của đơn vị thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế cơ bản sau :

Chỉ tiêu

Đv tính

Năm 2004

Năm 2008

Năm 2011

Doanh thu

1.000 đ

2.555.619.000

3.615.678.935

6.311.238.724

- Ngành thuốc lá

1.000 đ

2.443.379.000

3.545.740.945

6.167.502.000

- Ngành Dệt may

1.000 đ

26.565.000

55.465.000

116.748.000

- Ngành ĐĐ CS

1.000 đ

-

585.000

18.845.000

Lợi Nhuận

1.000 đ

49.968.000

114.585.000

116.557.172

Lao động

Người

178

453

458

Nhìn lại chặng đường 1 thập niên xây dựng và trưởng thành, Công ty Thương mại Khatoco đã vượt qua nhiều khó khăn từ phía khách quan và từ nguyên nhân nội tại, có những thời điểm khó khăn thách thức tưởng chừng không thể vượt qua được. Nhưng được sự chỉ đạo chặt chẽ của Lãnh đạo Công ty mẹ - Tổng công ty Khánh Việt, sự phối hợp và hợp tác tích cực của các đơn vị thành viên trong Tổng công ty. Đặc biệt là sự nỗ lực không mệt mọi của tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên, Công ty Thương mại Khatoco đã tự khẳng định được vị trí vai trò của mình trong tổ hợp Công ty mẹ công ty con Tổng công ty Khánh Việt.

Thành tích và sự trưởng thành của 10 năm hoạt động đáng được ghi nhận và trân trọng. Phía trước còn nhiều khó khăn thách thức còn phải nỗ lực hết sức mình mới đạt được sự kỳ vọng và tin tưởng của lãnh đạo Tổng công ty. Thách thức lớn nhất là phải vượt qua chính mình từ nội lực. Tốc độ phát triển trên nhiều lĩnh vực của Công ty trong giai đoạn 2009 – 2012 đã làm mất cân đối nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực ở vị trí cao cấp; Cơ sở vật chất không tương xứng với quy mô hoạt động; Hệ thống tổ chức quản lý được thưòng xuyên sắp xếp, bổ sung, tái cấu trúc lại nhưng để tiến đến chuyên nghiệp hoá còn nhiều khó khăn và bất cập; Thương hiệu là tài sản lớn nhất trong lĩnh vực hoạt động thương mại nhưng chưa được khai thác tốt nhất. Đó là những nhiệm vụ cần phải hoàn thành trong chặng đường tiếp theo.

BAN GIÁM ĐỐC